Hưng Yên: 67% lượng chất thải rắn nông thôn đã được thu gom, xử lý
16:51 - 16/11/2018
(MTNT)- Đến nay, 67% lượng chất thải rắn nông thôn đã được thu gom, xử lý, 77% số xã trong tỉnh đạt chuẩn vệ sinh môi trường theo tiêu chí nông thôn mới, 94% dân số nông thôn được cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh…
Ô nhiễm môi trường nông thôn cần được xử lý (ảnh internet)


Ông Nguyễn Đình Bốn, khu dân cư Tạ Hạ, xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên chia sẻ. Sau khi được vận động, đã có 130 hộ xây bể xử lý rác thải đạt tiêu chuẩn, 170 hộ đăng ký nhận thùng phân loại rác thải.


Quy trình xử lý rác rất đơn giản, người dân được trang bị thùng phi nhựa dung tích 200 lít, xung quanh khoan nhiều lỗ tròn, bên dưới có cánh cửa diện tích 20cm2 hoặc đào hố rác với kích thước 70cm x 70cm, sâu khoảng 1m bên trên đặt lắp hố rác di động.


Hàng ngày, các loại rác thải sinh hoạt trong gia đình được thu gom và phân loại, rác hữu cơ sẽ cho vào thùng phi hoặc hố rác đào sẵn. Sau đó, người dân tưới chế phẩm vi sinh gốc EM vào và đậy nắp. Khoảng 30 ngày sau rác thải sẽ phân hủy thành phân hữu cơ.


Mô hình đã tiết kiệm cho các hộ dân mỗi năm là 180.000 đồng/hộ do không phải thuê thu gom rác thải và các chi phí khác của địa phương phát sinh như: Sắm sửa dụng cụ, bảo dưỡng, sửa chữa chuyên dụng.


Huyện cũng không còn phải lo cấp xe chuyên dụng, cấp phương tiện bảo hộ cho công nhân, nhất là hàng tuần, hàng tháng ở khu dân cư không còn tình trạng rác thải tập trung chờ huyện về chuyên chở, gây ô nhiễm môi trường.


Trong khu dân cư Tạ Hạ đã có hơn 90% số hộ tham gia chương trình phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình. Hiện trong khu dân cư không còn rác thải bừa bãi. Môi trường thực sự xanh, sạch đẹp, nhận thức của người dân về việc phân loại rác thải đã chuyển biến tích cực.


Tuy vậy, Hưng Yên vẫn còn 1/3 số rác thải sinh hoạt nông thôn chưa được thu gom, xử lý. Toàn tỉnh còn 7/9 thị trấn và thành phố Hưng Yên chưa có công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung. 55% số cơ sở y tế công lập chưa đầu tư, vận hành công trình xử lý nước thải y tế… 

 
Ngoài ra, đến thời điểm này, Hưng Yên mới xử lý triệt để ô nhiễm môi trường theo Quyết định số 64 ngày 22.4.2003 của Thủ tướng Chính phủ tại 2/4 làng nghề, là làng nghề chế biến bột dong riềng xã Tứ Dân, huyện Khoái Châu và làng nghề thuộc da Liêu Xá, huyện Yên Mỹ. Hai cơ sở còn lại là làng nghề tái chế chì xã Chỉ Đạo, làng nghề tái chế nhựa Minh Khai, huyện Văn Lâm, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa hoàn thành xử lý...


Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường (TN - MT) Nguyễn Văn Phú chia sẻ, việc giải quyết ô nhiễm môi trường ở các làng nghề vẫn rất nan giải. Di dời các cơ sở làng nghề vào cụm công nghiệp làng nghề gặp khó khăn do tổ chức sản xuất của các hộ làm nghề thường gắn với sinh hoạt chung của gia đình (97,5% cơ sở sản xuất làng nghề quy mô hộ gia đình), không bố trí được quỹ đất, kinh phí xây dựng công trình bảo vệ môi trường (BVMT).

 
Bên cạnh đó, nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường tỉnh hàng năm mới đáp ứng khoảng 34% nhu cầu thực tế; huy động vốn ODA gặp nhiều khó khăn...

 
Thời gian tới, UBND tỉnh Hưng Yên sẽ chỉ đạo UBND các huyện, thành phố, các Sở, ngành liên quan tăng cường quản lý nguồn xả thải, nhất là các khu, cụm công nghiệp, làng nghề; yêu cầu các doanh nghiệp lắp đặt hệ thống quan trắc tự động để giám sát, đánh giá chặt chẽ việc xả thải gây ô nhiễm môi trường; xây dựng bản đồ các khu vực ô nhiễm nguồn nước ngầm và công khai để người dân được biết. 

 
Đồng thời, tỉnh sẽ quản lý chặt hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ bản kiểm soát được tình trạng ô nhiễm làng nghề; không phát sinh làng nghề ô nhiễm mới; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, không để tình trạng doanh nghiệp sản xuất lén lút xả chất thải nguy hại trực tiếp ra môi trường.


Đặc biệt, tổ chức rà soát, phân loại các cơ sở trong làng nghề theo loại hình sản xuất và tiềm năng gây ô nhiễm môi trường; đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường làng nghề, xây dựng kế hoạch xử lý các làng nghề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.


Bên cạnh sự vào cuộc của người dân, chính quyền, cần thêm chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các nghề và làng nghề truyền thống phát triển bền vững. Đồng thời, phải thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc các hộ gia đình thực hiện nghiêm pháp luật về BVMT.

Hải Hùng
Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Nông dân với chương trình môi trường nông thôn