Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu
15:42 - 22/07/2019
(MTNT)- Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được đánh giá là một trong những đồng bằng màu mỡ trên thế giới với các điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng; thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất là nông nghiệp. 
Việt Nam tích cực tìm giải pháp thích ứng BĐKH


Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, đồng bằng sông Cửu Long có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Đặc biệt là biến đổi khí hậu, nước biển dâng gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, ảnh hưởng đến sinh kế và đời sống của người dân.
 

Việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, trong đó việc phát triển các đập thủy điện đã làm thay đổi dòng chảy, giảm lượng phù sa, suy giảm nguồn lợi thủy sản, xâm nhập mặn sâu vào nội vùng, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội của toàn vùng.

 
Việc phát triển kinh tế với cường độ cao ở các địa phương trong vùng gây ra nhiều hệ lụy như ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, sụt lún đất, suy giảm mực nước ngầm, xâm thực bờ biển, diện tích rừng ngập mặn, rừng phòng hộ bị chặt phá, chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác hoặc bị suy thoái nặng nề cùng với việc khai thác bùn cát quá mức, xây dựng nhà cửa và hạ tầng sát bờ sông, kênh, rạch làm gia tăng nguy cơ sạt lở.

 
Nhận thức rõ các thách thức của biến đổi khí hậu đến vùng đồng bằng sông Cửu Long, ngày 17/11/2017, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây thực sự là quyết sách lớn, mang tầm thời đại của Đảng và Nhà nước trong phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.

 
Ngày 13/4/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 417/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hành động tổng thể thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ với 6 nhóm nhiệm vụ và giải pháp, bao gồm: (1). Rà soát, hoàn thiện và bổ sung hệ thống cơ chế, chính sách; (2). Cập nhật và hệ thống hóa số liệu, dữ liệu liên ngành, tăng cường điều tra cơ bản; (3) Xây dựng quy hoạch và tổ chức không gian lãnh thổ; (4). Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý thích ứng với biến đổi khí hậu; (5) Đầu tư và phát triển hạ tầng; (6). Phát triển và huy động nguồn lực.


Chương trình hành động tổng thể chia làm 3 giai đoạn: (1). Đến 2020: Trọng tâm là thực hiện những nhiệm vụ cấp bách đã nêu trong Nghị quyết số 120/NQ-CP. Trong đó, ưu tiên giải quyết vấn đề sạt lở bờ biển, bờ sông, rạch và sụt lún đất trong vùng đang diễn ra rất nhanh và ngày càng trầm trọng; triển khai quy hoạch, thiết kế các dự án cần đầu tư quy mô lớn ở giai đoạn tiếp theo nhằm triển khai mô hình kinh tế - xã hội của vùng một cách bền vững và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; rà soát các cơ chế, chính sách, xác định và trình phê duyệt các chính sách mới; thí điểm các mô hình chuyển đổi kinh tế; triển khai các hoạt động đầu tư xây dựng hạ tầng đã được phê duyệt.

 
(2). Từ 2021 - 2030: Tập trung vào việc triển khai các dự án, nhiệm vụ đã được phê duyệt. Đồng thời, xúc tiến những dự án, nhiệm vụ đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi những nguồn kinh phí lớn; duy trì và cập nhật hệ thống cơ sở dữ liệu liên ngành, điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường vùng đồng bằng sông Cửu Long; triển khai thực hiện các mô hình kinh tế hợp lý đã thí điểm thành công; tiếp tục đầu tư và phát triển hạ tầng, phát triển và huy động nguồn lực.
 

(3). Từ 2031 - 2050, định hướng đến 2100: Phát huy hiệu quả và tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp, chương trình, dự án, nhiệm vụ của giai đoạn đến năm 2020 và 2021 - 2030, điều chỉnh bổ sung cho phù hợp để đến năm 2050, đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao, kết hợp với dịch vụ, du lịch sinh thái, có trình độ phát triển khá so với cả nước về tổ chức xã hội, kinh tế và mạng lưới hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu, thích ứng với điều kiện tài nguyên nước và an toàn trước thiên tai.

 
Sau hai năm thực hiện, Nghị quyết số 120/NQ-CP đã được triển khai rộng khắp ở các Bộ, ngành, các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Cửu Long và góp phần đạt kết quả quan trọng. Tăng trưởng GDP của vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt mức ấn tượng là 7,8% cao nhất trong 4 năm trở lại đây (bình quân cả nước là 7,1%). Kim ngạch xuất khẩu toàn vùng lần đầu tiên đạt 15,7 tỷ USD.

 
Bên cạnh đó, hệ thống cơ chế, chính sách được hoàn thiện, bổ sung tập trung thúc đẩy phát triển nông nghiệp, hạ tầng giao thông, phát triển đô thị ổn định dân cư; lồng ghép yếu tố biến đổi khí hậu; công tác điều tra cơ bản, quan trắc được tăng cường; số liệu, dữ liệu liên ngành được thiết lập, cập nhật và hệ thống hóa; Nghiên cứu khoa học và công nghệ được đẩy mạnh cung cấp luận cứ, sáng kiến, giải pháp, công nghệ phục vụ phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long; Công tác quy hoạch, kết nối liên vùng được tập trung triển khai; Cơ cấu kinh tế đang được chuyển dịch, nhiều ngành hàng, mặt hàng đã tìm được chỗ đứng trên thị trường thế giới; Công tác phòng chống, khắc phục sụt lún, sạt lở bờ sông, bờ biển được quan tâm; Hạ tầng cơ sở được quan tâm đầu tư, xây dựng, tăng cường kết nối liên vùng, phát huy lợi thế giao thông đường thủy; Quan tâm đầu tư nguồn lực nhà nước, triển khai cơ chế khuyến khích thu hút nguồn vốn tư nhân tạo xung lực cho phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long; Công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đã được quan tâm; hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức được đẩy mạnh; Hoạt động hợp tác quốc tế được thúc đẩy góp phần thu hút nguồn lực, tri thức, công nghệ cho đồng bằng sông Cửu Long. An sinh xã hội được quan tâm, việc làm được cải thiện, sinh kế của người dân từng bước được chuyển đổi theo hướng bền vững. Đầu tư của nhà nước và xã hội cho phát triển vùng tăng mạnh.


Tâm Ngân



Nguồn: Thông cáo báo chí Bộ TNMT

Thêm bình luận :
Họ và tên
Email

Bài đọc nhiều nhất

Nông dân với chương trình môi trường nông thôn