Giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông thôn từ hoạt động sản xuất nông nghiệp
15:00 - 29/11/2019
(MTNT) – Những năm gần đây, ngành nông nghiệp nước ta đã có những bước tiến phát triển mạnh mẽ, mang lại giá trị kinh tế cao giúp bộ mặt nông thôn ngày càng hiện đại, văn minh. Tuy nhiên, sự phát triển vượt bậc đó cũng gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tác động đến sức khỏe của người dân và chất lượng các sản phẩm nông sản.

Nghề nuôi thủy, hải sản giúp bà con nâng cao hiệu quả kinh tế, tuy nhiên, số lượng lớn thức ăn chăn nuôi bị hòa vào môi trường nước và trở thành các chất hữu cơ phân hủy gây ô nhiễm môi trường

 
Theo thống kê, địa bàn nông thôn hiện có diện tích chiếm khoảng 80% tổng số diện tích của cả nước. Do đó, nông thôn đóng vai trò hết sức quan trọng là trở thành vành đai xanh, giữ gìn sự cân bằng sinh thái giữa nông thôn và thành thị. Bên cạnh đó, với nền kinh tế chủ yếu là hoạt động sản xuất nông nghiệp, khu vực nông thôn cũng đang nắm giữ vị trí trọng yếu, góp phần đảm bảo sự ổn định của vấn đề an ninh lương thực quốc gia; đồng thời còn cung cấp nguồn nguyên, nhiên liệu phục vụ cho công nghiệp và xuất khẩu.

 
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh và mạnh tại khu vực nông thôn đã làm phát sinh nhiều vấn đề bức xúc về môi trường; đồng thời, đặt ra những thách thức lớn trong công tác bảo vệ môi trường nông thôn đối với các cấp, các ngành chức năng và chính quyền các địa phương.

 
Tình trạng ô nhiễm môi trường hiện đang diễn ra phổ biến trong tất cả các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Cụ thể như: Việc sử dụng tràn lan hóa chất bảo vệ thực vật, các chất kích thích sinh trưởng, phân bón trong canh tác nông nghiệp; phế phụ phẩm từ quá trình sản xuất nông nghiệp không được xử lý triệt để; nghề nuôi trồng thủy, hải sản phát triển cũng làm phát thải số lượng lớn các chất thải rắn, bùn thải, nước thải có chứa dư lượng kháng sinh, mầm bệnh... Tất cả đều đã và đang tạo nên những tác hại làm ảnh hưởng tới chất lượng của các sản phẩm thực phẩm nông nghiệp; dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường của đất, nước, không khí.

 
Theo các chuyên gia môi trường, chất thải chăn nuôi chính là một trong những nguồn gây ô nhiễm lớn nhất của hoạt động sản xuất nông nghiệp. Ước tính mỗi con bò thải ra từ 10- 15 kg phân/ngày; 1 con lợn thải ra 2,5- 3,5 kg phân/ngày; mỗi con gia cầm thải khoảng 90 g phân/ngày. Như vậy, tổng khối lượng chất thải trong chăn nuôi phát sinh ra môi trường khoảng 73- 80 triệu tấn/năm.

 
Hiện nay, phương thức chăn nuôi theo mô hình nông hộ nhỏ lẻ vẫn còn chiếm tỷ lệ lớn. Vì thế, trong việc xử lý cũng như quản lý chất thải chăn nuôi của ngành chức năng tại các địa phương ngày càng gặp phải nhiều khó khăn. Thống kê trong cả nước có khoảng  8,5 triệu hộ chăn nuôi theo quy mô gia đình; 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung. Tuy nhiên, mới chỉ có khoảng 8,7% số hộ dân đã đầu tư xây dựng và tiến hành lắp đặt các công trình khí sinh học khép kín là mô hình hầm biogas.

 
Bên cạnh đó, tỷ lệ các hộ gia đình có khu vực chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh chiếm 10%; 0,6% số hộ có ký cam kết bảo vệ môi trường. Hiện vẫn còn khoảng 23% số hộ chăn nuôi không xử lý chất thải mà trực tiếp xả thẳng ra môi trường.

 
Qua phân tích và đánh giá thì đây đều là hỗn hợp các chất dinh dưỡng, chất gây bệnh và các hợp chất dễ bay hơi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng không khí và nguồn nước. Cụ thể như trong chăn nuôi lợn, khoảng 70- 90% lượng khí nitơ, khoáng chất (phốt pho, kali, magie…) cùng các kim loại nặng khác chứa trong thức ăn chăn nuôi sẽ được thải ra môi trường.

 
Theo một kết quả nghiên cứu từ các trang trại chăn nuôi lợn ở khu vực phía Bắc cho thấy: Nồng độ amoniac trong khí thải đã cao hơn mức độ cho phép từ 7- 18 lần; khí hydro sulfide cũng cao gấp 5- 50 lần mức cho phép. Do đó, chăn nuôi gia súc là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm khí hậu ở nước ta; là nguồn phát triển nhanh nhất lượng khí phát thải nhà kính.

 
Mặt khác, tình trạng sử dụng thuốc thú y, vắc-xin trong phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm của các hộ chăn nuôi cũng không đúng kỹ thuật, gây tác hại lớn đến môi trường. Qua kiểm tra ngẫu nhiên từ 134 mẫu nước lấy từ các giếng khoan gần những hố chôn gia cầm chết, ngành chức năng đã phát hiện có 23% số mẫu bị nhiễm bẩn các chất hữu cơ vượt mức cho phép, 42,3% mẫu bị nhiễm vi sinh vật vượt giới hạn cho phép.

 
Đối với lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, vấn đề nổi cộm trong ô nhiễm môi trường hiện nay chủ yếu xuất hiện ở các vùng nuôi tôm và cá da trơn tập trung. Theo đó, để có 1 kg cá tra thành phẩm, người nông dân đang phải sử dụng từ 3- 5 kg thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, có khoảng 17% lượng thức ăn nói trên được đàn cá hấp thụ, phần còn lại bị hòa vào môi trường nước và trở thành các chất hữu cơ phân hủy gây ô nhiễm môi trường.
 

Những chất thải trong quá trình nuôi thủy, hải sản chính là dư lượng bùn thải có chứa phân của các loài vật nuôi. Khi nguồn thức ăn dư thừa này bị thối rữa và phân hủy, các chất tồn dư của các loại vật tư sử dụng trong quá trình nuôi (hóa chất, vôi, khoáng chất, lưu huỳnh…) bị lắng đọng khiến cho ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến cho các loại dịch bệnh phát sinh trên diện rộng ở những ao nuôi các loại cá, tôm.

 
Trong lĩnh vực trồng trọt, có 80% khối lượng rơm rạ, thân các loài cây lương thực đang bị người dân đốt hoặc vứt bỏ ngoài đồng ruộng. Khi đốt các tàn dư từ hoạt động nông nghiệp thì các hợp chất hóa học sẽ được phát thải vào không khí, việc này vừa gây lãng phí nguồn phụ phẩm nông nghiệp có ích lại vừa làm ô nhiễm môi trường.

 
Bên cạnh chất thải hữu cơ, nguồn chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất của bà con nông dân cũng khá lớn và ngày càng đáng báo động. Chỉ tính riêng số lượng các loại thuốc bảo vệ thực vật được nhập khẩu mỗi năm ở nước ta vào khoảng 130.000- 150.000 tấn. Một nghiên cứu cho thấy, khoảng 50- 60% bà con nông dân khi trồng lúa đã sử dụng lượng thuốc trừ sâu với tỉ lệ vượt mức đề nghị.

 
Ngoài ra, việc sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp không những không mang lại hiệu quả mà ngược lại, còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường đất. Khả năng hấp thụ của các loại cây trồng với phân bón, thuốc bảo vệ thực vật còn nhiều hạn chế, chỉ đạt từ 45 – 50%.

 
Vì thế, hiện tượng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong phòng trừ dịch hại một cách tùy tiện, không tuân thủ quy trình kỹ thuật, không đảm bảo thời gian cách ly sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường như: Ngộ độc thực phẩm; mất an toàn vệ sinh thực phẩm… Đáng chú ý, đối với một số loại thuốc trừ sâu với dư chất hóa học nguy hiểm còn dễ dẫn đến nguy cơ các chất độc hại thấm sâu vào rễ cây, vào đất canh tác và ngấm xuống nguồn nước ngầm… gây nên những tác hại về lâu dài và rất đáng báo động.

 
Theo ước tính, bình quân mức thiệt hại do ô nhiễm môi trường tại nước ta chiếm khoảng 5% GDP của cả nước, tương đương với gần 10 tỉ USD/năm. Vì thế, nông nghiệp nông thôn có nhiều vấn đề đáng lo ngại và gây ô nhiễm môi trường. Tình trạng phổ biến là người dân vẫn đang lạm dụng thức ăn chăn nuôi công nghiệp; lạm dụng thuốc trừ sâu; làm ngơ đối với việc xử lý các chất thải trong chăn nuôi; đốt cháy các phụ phẩm từ sản xuất nông nghiệp.

 
Từ thực trạng môi trường nông thôn nêu trên đã đặt ra những nhiệm vụ quan trọng đối với các cơ quan chức năng như: Ngành Tài nguyên và Môi trường; Ủy ban nhân dân các cấp... trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, lực lượng Cảnh sát môi trường với vai trò chuyên trách, chủ công trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm hành chính về môi trường cũng luôn xác định khu vực nông thôn là địa bàn trọng điểm của việc phòng ngừa, đấu tranh các hành vi vi phạm.

 
Theo đó, các cơ quan chức năng đã tăng cường triển khai, tổ chức nhiều đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường. Qua công tác kiểm tra đã phát hiện 22.535 vụ vi phạm pháp luật về môi trường với 2.782 tổ chức và 20.663 cá nhân vi phạm; cơ quan điều tra đã khởi tố 355 vụ, 395 bị can; xử lý hành chính 19.600 trường hợp, xử phạt và truy thu phí môi trường trên 243,5 tỷ đồng.

 
Chất thải nông nghiệp là một vấn đề không thể xem nhẹ khi Việt Nam đã và đang trở thành một trong những quốc gia sản xuất nông nghiệp lớn nhất thế giới. Có thể thấy ô nhiễm môi trường trong nông nghiệp đang là vấn đề đáng báo động, cần được quan tâm và tìm cách giải quyết triệt để. Vì thế, chúng ta cần xây dựng một hệ thống giải pháp đồng bộ và đa chiều.

 
Để tăng cường công tác bảo vệ môi trường nông thôn, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, các cấp, các ngành cần tăng cường sự phối hợp, tổ chức tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Từ đó, vận động và giúp quần chúng nhân dân, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ tại địa bàn nông thôn nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, nâng cao ý thức thực hiện, chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi… Cùng với đó, các phong trào bảo vệ môi trường cần phát động thường xuyên; kiên quyết đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trên địa bàn nông thôn.

 
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành, các đơn vị chức năng cần làm tốt công tác tham mưu với cấp ủy, chính quyền các cấp để tăng cường sự quản lý của Nhà nước về lĩnh vực bảo vệ môi trường; rà soát các quy định hiện hành để kịp thời bổ sung, sửa đổi, khắc phục những tồn tại, bất cập trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Trong đó, tập trung đối với nhóm các quy định về: Bảo vệ môi trường làng nghề; quản lý hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, chất kích thích sinh trưởng; việc sử dụng hóa chất trong trồng trọt, chăn nuôi…

 
Khuyến khích việc áp dụng các mô hình xử lý sinh học tiên tiến, hiện đại tại các hộ gia đình, trang trại chăn nuôi nhằm giải quyết triệt để các chất thải rắn, nước thải từ quá trình chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Bên cạnh đó, thông qua việc kiểm soát, đánh giá chất lượng sản phẩm, ngành chức năng cần quản lý chặt chẽ hoạt động sử dụng hóa chất, chất cấm, chất kích thích sinh trưởng, kháng sinh trong chăn nuôi.

 
Lực lượng Cảnh sát môi trường cần tập trung làm tốt các mặt công tác trong phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên tại địa bàn khu vực nông thôn; đặc biệt là các hành vi vi phạm phổ biến về quản lý chất thải, xả thải gây ô nhiễm môi trường, vi phạm các quy định về sử dụng hóa chất, chất cấm, kháng sinh trong sản xuất nông nghiệp nói chung. Nâng cao vai trò giám sát, phản biện của các Hội, đoàn thể ở địa phương; đề cao tính cảnh giác trong bà con nông dân và tăng cường việc phát hiện kịp thời những vấn đề vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

 
Ngoài ra, người nông dân cần thực hành chuẩn nông nghiệp tốt của quốc gia (VietGAP). Đây là bộ quy định về thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản ở Việt Nam được Chính phủ Việt Nam bảo trợ. Khi người nông dân áp dụng các quy chuẩn trên, họ sẽ được cấp nhận giấy chứng nhận VietGAP. Thông qua việc chứng minh được sản phẩm là sạch và chất lượng sẽ cải thiện đáng kể lòng tin của người tiêu dùng trên thị trường; đồng thời, bà con sẽ bán được sản phẩm nông sản với giá cao, giúp gia tăng lợi nhuận và giá trị kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống.


 
Như Cương
 
Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Nông dân với chương trình môi trường nông thôn